Gạo nếp rất quan trọng trong đời sống của người dân Việt Nam, đặc biệt trong những ngày lễ tết và các đám hiếu hỷ. Chúng được sử dụng làm các loại bánh truyền thống như bánh trưng, bánh dầy, bánh cốm.... nhiều nơi còn dùng để nấu các loại rượu ngon như rượu nếp cái, rượu nếp cẩm. Một số tỉnh lúa nếp được coi là giống cây đặc sản như nếp cái hoa vàng Bắc Ninh, Nam Định và ở miền Nam lúa nếp cũng là một mặt hàng xuất khẩu đem lại lợi nhuận kinh tế cao. Diện tích trồng lúa nếp hiện nay ở nước ta chiếm khoảng 10% tổng số diện tích sản xuất lúa.
Tuy nhiên, do công tác chọn tạo giống lúa nếp chưa được quan tâm nhiều như lúa tẻ. Nên bộ giống lúa nếp hiện còn khá nghèo nàn, có thể chia làm hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất là các giống lúa nếp địa phương như nếp cái hoa vàng, nếp cau, nếp hoa trắng... có đặc điểm chất lượng gạo tốt, cơm dẻo, thơm ngon nhưng năng suất lại thấp, cây cao, dễ đổ, thời gian sinh trưởng dài, phản ứng với ánh sáng ngày ngắn nên chỉ cấy được một vụ mùa ở đồng bằng Bắc bộ. Nhóm thứ hai là các giống lúa nếp mới chọn tạo như TK90, nếp 87, nếp 415, nếp 44 đang được trồng phổ biến ở nước ta, các giống này có năng suất khá, thấp cây, thời gian sinh trưởng ngắn nhưng chất lượng gạo lại kém, không thơm hoặc ít thơm, cơm ít dẻo, đặc biệt dễ bị nhiễm một số sâu bệnh hại nguy hiểm như bệnh đaọ ôn, bạc lá và rầy nâu.
Chọn tạo các giống lúa kháng bệnh bằng các phương pháp truyền thống là rất khó khăn, bởi sự di truyền đa gen và tương tác của môi trường là những yếu tố gây khó khăn trong việc cải tiến các tính trạng. Để chọn tạo giống thành công thì việc có được nguồn gen phong phú, đa dạng chứa nhiều tính trạng tốt bao gồm các gen mục tiêu có ý nghĩa quyết định.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thì sự ra đời và phát triển của công nghệ sinh học như công nghệ chỉ thị phân tử DNA áp dụng trong chọn tạo giống cây trồng đã giúp chọn lọc sớm và chính xác những gen mục tiêu dẫn đến rút ngắn được thời gian chọn tạo ra giống mới, chọn tạo được giống có nhiều đặc tính tốt có phổ di truyền và thích ứng rộng. Hiện nay, có rất nhiều gen quy định nhiều tính trạng nông sinh học, năng suất chất lượng và chống chịu với điều kiện hữu và vô sinh đã được định vị trên bản đồ từng nhiễm sắc thể và đã được xác định có nhiều chỉ thị phân tử DNA liên kết chặt với từng gen. Vì thế, việc ứng dụng công nghệ này nhằm chọn tạo ra giống lúa nếp mới vừa có năng suất cao, chất lượng tốt, cảm ôn và kháng bệnh bạc lá bền vững là cần thiết và có khả thi giúp nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho người dân, tạo nông sản sạch, không gây ô nhễm môi trường.
Xuất phát từ thực tế đó, cùng với sự giúp đỡ của Bộ NN & PTNT Cơ quan chủ trì đề tài/dự án : Học viện Nông nghiệp Việt Nam phối hợp với Chủ nhiệm đề tài, dự án: TS. Nguyễn Văn Giang tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa nếp kháng bệnh bạc lá bằng chỉ thị phân tử cho các tỉnh phía Bắc”.
Sau thời gian nghiên cứu, đã thu được những kết quả như sau:
- Đã xác định được 3 bộ chỉ thị phân tử liên kết với tính trạng mùi thơm (chỉ thị BADH2, RG28, L06), gen waxy (chỉ thị PAccI, Wx) gen kháng bệnh bạc lá hữu hiệu Xa4 (chỉ thị RM224, MP, Npb181), gen kháng bệnh bạc lá Xa5 (chỉ thị RM122 và RG556), gen kháng bệnh bạc lá Xa7 (chỉ thị P3, M5, RG559)
- Đã xây dựng quy trình chọn tạo giống lúa nếp ngắn ngày, cảm ôn, chất lượng cao, kháng bênh bạc lá bằng chỉ thị phân tử.
- Đã tạo ra giống lúa nếp NV3 được công nhận và giống lúa nếp NV2 hoàn thiện hồ sơ công nhận sản xuất thử. Là những giống lúa nếp có chất lượng cao, dẻo, thơm, kháng bệnh bạc lá, ngắn ngày, cảm ôn.
- Đã tạo được 02 giống lúa nếp chất lượng cao, cảm ôn, kháng bệnh, năng suất khảo nghiệm quốc gia.
Theo most.gov.vn
Phú Thọ - vùng đất cội nguồn của dân tộc Việt Nam - là địa phương sở hữu kho tàng di sản văn hóa phong phú với hàng nghìn di tích lịch sử, khảo cổ học, kiến trúc nghệ thuật và di tích cách mạng kháng chiến
Trí tuệ nhân tạo đang trở thành động lực quan trọng trong quá trình chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, mở ra cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Việt Nam xác định phát triển AI theo hướng mở, an toàn và có chủ quyền, gắn với mục tiêu chiến lược đến năm 2030 thuộc nhóm ba quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển AI. Chủ trương này được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định 1131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ...
Chuyển đổi số (CĐS) đã trở thành xu thế tất yếu, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (GD&ĐT). Nhận thức rõ điều đó, ngành GD&ĐT tỉnh Phú Thọ đã chủ động triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, phát huy hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu (CSGL) tập trung, phát triển nguồn nhân lực số và đổi mới phương thức dạy, học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong thời kỳ số hóa.
Hướng tới nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và bền vững, ngành Nông nghiệp tỉnh đang tập trung hỗ trợ nông dân đổi mới tư duy sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ và các giải pháp kỹ thuật tiên tiến vào tất cả các khâu từ sản xuất - chế biến - tiêu thụ. Nhiều mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ 4.0 đã hình thành, tạo đột phá về năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm với chi phí thấp, góp phần quan trọng vào mục tiêu tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng.
Công dân số được xem là yếu tố nền tảng đối với sự phát triển xã hội số, mở cánh cửa "ngôi nhà chuyển đổi số". Thời gian qua, tỉnh Phú Thọ đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm mục tiêu hình thành và phát triển công dân số.
Trong bối cảnh Chính phủ đang đẩy mạnh thực hiện Chương trình chuyển đổi số quốc gia, chuyển đổi số đã trở thành xu thế tất yếu, đóng vai trò then chốt trong công tác cải cách hành chính, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước. Thời gian qua, các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp của tỉnh đang bước vào giai đoạn tăng tốc trong việc ứng dụng công nghệ thông tin và dữ liệu số vào công tác điều hành, quản lý đã ...
Liên kết trang
0
3
0