Cá Bỗng (Spinibarbus denticulatus - Oshima, 1926) là một loài cá nước ngọt miền núi, đặc sản và đặc hữu có giá trị kinh tế ở nước ta. Cá có nhiều ưu điểm quý như: ăn tạp chủ yếu là thực vật bậc cao, cá có kích cỡ lớn, thân hình màu sắc đẹp; ngoài ra cá hoàn toàn có thể sử dụng thức ăn công nghiệp. Trong điều kiện nuôi thâm canh cá Bỗng ít bị nhiễm bệnh, có khả năng sinh trưởng cao, có ngoại hình đẹp và chất lượng thịt ngon, giá trị gấp 2-3 lần so với một số giống đặc sản hiện nay trên thị trường.

Hình ảnh cá Bỗng được nuôi sinh sản nhân tạo
Tuy nhiên, nguồn lợi cá Bỗng hiện nay đã giảm sút rất nghiêm trọng, cần từng bước góp phần phát triển, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, là giống được đánh giá cao về sự phù hợp với điều kiện tự nhiên, lợi thế nuôi lồng trên sông Đà và sông Lô, về khả năng sinh sản nhân tạo và hiệu quả kinh tế nuôi thương phẩm, khẳng định cần sớm được chuyển giao xây dựng mô hình phát triển quy mô hàng hóa. Trước thực trạng đó, Công ty TNHH Quảng Đạt Phú Thọ đã triển khai dự án: “Ứng dụng công nghệ sinh sản nhân tạo để sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Bỗng trên sông theo quy mô hàng hoá tại tỉnh Phú Thọ”. Dự án thuộc Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2025.
Mục tiêu chung của dự án là chuyển giao đồng bộ, tiếp thu và làm chủ được các kỹ thuật công nghệ sinh sản nhân tạo để sản xuất giống và quy trình kỹ thuật nuôi thương phẩm; xây dựng được mô hình liên kết ứng dụng tiến bộ KH&CN trong chuỗi giá trị nuôi cá Bỗng trên sông quy mô hàng hóa có giá trị kinh tế cao, phát triển bền vững phát huy lợi thế phục vụ Chương trình phát triển thủy sản tại tỉnh Phú Thọ.
Dự án “Ứng dụng công nghệ sinh sản nhân tạo để sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Bỗng (Spinibarbus denticulatus - Oshima, 1926) trên sông theo quy mô hàng hóa tại tỉnh Phú Thọ” có đủ hàm lượng khoa học và mang tính thực tiễn, thể hiện đầy đủ tính khả thi và hiệu quả nhằm phát triển nuôi trồng thủy sản. Cơ quan chủ trì đã tiếp nhận và làm chủ được các quy trình công nghệ chuyển giao, có khả năng duy trì và phát triển trong những năm tiếp theo.
Dự án đã tiếp thu và làm chủ được các kỹ thuật công nghệ trong việc nuôi vỗ, sinh sản nhân tạo, ương nuôi nhằm chủ động sản xuất con giống tại chỗ cho tỉnh Phú Thọ và các địa phương khu vực miền núi phía Bắc có lợi thế phát triển giống cá Bỗng đặc sản này và công nghệ nuôi thương phẩm trong lồng trên sông, tạo ra sản phẩm có chất lượng, an toàn thực phẩm theo hướng sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài tỉnh.
Xây dựng thành công các mô hình công nghệ sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm cá bỗng trong lồng trên sông, góp phần vào đa dạng hóa giống loài nuôi mới có chất lượng và giá trị kinh tế cao của tỉnh và bảo vệ nguồn lợi thủy sản đặc sản có nguy cơ bị cạn kiệt; đồng thời để chủ động chuyển giao công nghệ cho người dân và doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản. Tạo được mô hình chuỗi liên kết trong phát triển chăn nuôi thủy sản của tỉnh, góp phần khắc phục được hạn chế trong sản xuất kinh doanh thương mại các sản phẩm thủy sản trên địa bàn tỉnh.
Thành công của dự án là động lực quan trọng để ứng dụng và chuyển giao quy trình sản xuất giống cá Bỗng và nuôi thương phẩm cá Bỗng trong lồng, đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu ngành thủy sản theo hướng bền vững, góp phần nâng cao thu nhập và tạo việc làm cho người lao động tại địa phương.
Hoàng Việt
Qua hơn 3 năm thực hiện Đề án 06 của Chính phủ đã mang lại những kết quả thiết thực, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, từng bước xây dựng Chính phủ số, xã hội số và kinh tế số. Cùng với đó, VNeID là ứng dụng định danh và xác thực điện tử quốc gia do Bộ Công an xây dựng và vận hành dựa trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trong Đề án 06, VNeID được coi là “chìa khóa số” của công dân để xác thực danh tính, thực hiện dịch ..
Trong tiến trình xây dựng chính quyền số, xã hội số, Vĩnh Hưng xác định chuyển đổi số không đơn thuần là ứng dụng công nghệ, mà là quá trình thay đổi tư duy, phương thức quản lý, cách tiếp cận của chính quyền và người dân. Để đạt được điều đó, cấp ủy, chính quyền xã đã tập trung triển khai nhiều giải pháp để công cuộc chuyển đổi số thực sự tăng tốc.
Theo kết quả đánh giá Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2025 do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố, tỉnh Phú Thọ xếp thứ 15/34 tỉnh, thành phố, tăng 2 bậc so với năm 2024. Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2025 phản ánh tương đối sát thực trạng phát triển kinh tế - xã hội dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của tỉnh.
Năm 2026, tỉnh Phú Thọ tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trên cả 3 lĩnh vực: xây dựng chính quyền số hiệu lực, kinh tế số năng động và thu hẹp khoảng cách số trong xã hội số. Với Kế hoạch Chuyển đổi số năm 2026, tỉnh Phú Thọ đặt ra các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể cùng các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp đồng bộ, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
Hoàn thành 100% các chỉ tiêu, nhiệm vụ về chuyển đổi số, tỉnh Phú Thọ đang nằm trong TOP đầu các đơn vị hành chính của cả nước về công tác chuyển đổi số năm 2025
Khoa học, công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST) được xác định là động lực then chốt để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ, tỉnh Phú Thọ đã tập trung phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong quản lý công nghệ và ĐMST, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng
Liên kết trang
0
4
0