
Đánh giá việc thực hiện chiến lược phát triển KH&CN, Báo cáo do Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Trưởng đoàn giám sát trình bày cho biết, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 272/2003/QĐ-TTg ngày 31/12/2003 phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam đến năm 2010 và Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020.
Qua 10 năm tổ chức triển khai thực hiện, một số chỉ tiêu quan trọng đề ra trong Chiến lược đã đạt được, như sau: Giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đóng góp ngày càng nhiều vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giai đoạn 2011-2013 với tỷ trọng đóng góp theo các năm lần lượt là 11,7%; 19,1% và 28,7%; tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị cơ bản đạt mục tiêu chiến lược đề ra, đạt 10,68%/năm.
Tổng số bài báo, công trình khoa học được công bố quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015 gấp 2,2 lần so với giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng bình quân là 19,5%/năm, đạt mục tiêu của Chiến lược.
Số lượng công bố quốc tế từ các đề tài nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước tăng 15-20%/năm. Giai đoạn 2011-2015, số lượng sáng chế, giải pháp hữu ích được bảo hộ tăng 62% so với giai đoạn 2006-2010,…
Trước những con số được nêu ra trong báo cáo về bài báo, công trình khoa học được công bố quốc tế, bà Lê Thị Nga – Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội đặt vấn đề: “Vì liên quan đến ngân sách nên đề nghị cho biết đã dùng bao nhiêu tiền để có số bài báo, công trình được công bố quốc tế?”.
Giải trình về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Quốc Khánh cho biết, trong thời gian vừa qua, số bài báo đăng ký công bố quốc tế tăng đáng kể nhờ sự hỗ trợ của Quỹ phát triển KH&CN quốc gia do Bộ KH&CN quản lý, hàng năm tăng 30%. Các bài báo công bố quốc tế này đăng trên tạp chí uy tín thuộc Danh mục tạp chí ISI do Thompson Reuter xếp hạng. Với các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, Quỹ phát triển KH&CN quốc gia tài trợ khoảng 800 triệu đồng, yêu cầu sản phẩm đầu ra bắt buộc là các công bố quốc tế đăng trên các tạp chí thuộc Danh mục tạp chí ISI.
Để làm rõ hơn thông tin về việc sử dụng bao nhiêu tiền để có số bài báo, công trình được công bố quốc tế, Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia cho biết cụ thể hơn: Đây là Chương trình tài trợ nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên triển khai từ năm 2009, trong đó bao gồm 8 lĩnh vực: Toán học, Khoa học Thông tin và Máy tính, Vật lý, Hóa học, Khoa học Trái đất và Môi trường, Khoa học Sự sống – Sinh học Nông nghiệp, Y sinh và Cơ học. Các đề tài nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên được Quỹ tài trợ hàng năm khoảng hơn 200 đề tài nghiên cứu, chiếm 80% số lượng đề tài, chương trình được Quỹ tài trợ và khoảng 60% tổng kinh phí tài trợ của Quỹ. Kinh phí trung bình Quỹ tài trợ cho các đề tài, các chương trình này là 750-800 triệu đồng/1 đề tài, chương trình nghiên cứu, ứng dụng KH&CN. Ngoài sản phẩm nghiên cứu chính, các đề tài, các chương trình nghiên cứu, ứng dụng KH&CN do Quỹ tài trợ bắt buộc phải có tối thiểu 2 công bố quốc tế đăng trên các tạp chí thuộc Danh mục tạp chí ISI do Thompson Reuter xếp hạng (không kể các công bố trong và ngoài nước khác trên các tạp chí không thuộc Danh mục tạp chí ISI).
Theo số liệu thống kê về kết quả nghiệm thu năm 2015, số lượng các bài báo thuộc Danh mục tạp chí ISI được công nhận là kết quả của đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên do Quỹ tài trợ đạt 2,9 bài báo/đề tài.
Chiều ngày 05/01/2026, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 13 luật vừa được Quốc hội khóa XV thông qua. Trong đó, các đạo luật do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì xây dựng được kỳ vọng tạo nền tảng pháp lý đồng bộ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia, như: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ; Luật Trí tuệ nhân tạo; Luật sửa đổi, bổ sung ...
Cách đây tròn 80 năm, ngày 6/1/1946, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng lá phiếu phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín để bầu ra Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 1/7/2025, việc hợp nhất nguyên trạng ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình chính thức có hiệu lực, hình thành tỉnh Phú Thọ mới với quy mô dân số, diện tích và tiềm lực kinh tế - xã hội lớn hơn, đứng thứ 6 cả nước. Sự kiện mang tính lịch sử này không chỉ mở ra không gian phát triển mới, mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết trong công tác xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) thống nhất, đồng bộ, bảo đảm vận hành thông suốt bộ máy, phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh mới.
Cùng với cả nước, sáng ngày 5/1/2026, sau 4 ngày nghỉ Tết Dương lịch, các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh bước vào ngày làm việc đầu tiên của năm mới với khí thế khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm.
Năm 2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng của tỉnh Phú Thọ trong phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nhất là sau khi hợp nhất ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp đã tạo ra không gian phát triển mới cho tỉnh Phú Thọ.
Liên kết trang
0
4
0