Ủy ban nhân dân tỉnh phú thọ
Sở khoa học và công nghệ
 SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH PHÚ THỌ
ủy ban nhân dân tỉnh phú thọ
sở khoa học và công nghệ
Thứ Sáu, 15/11/2013
Từ viết tắt
Xem với cỡ chữ
Đọc bài viết
Tương phản

Kết quả chọn tạo giống chè PH8, PH9: Mở ra triển vọng mới cho ngành chè


Trong những năm gần đây, sản xuất chè Việt Nam đã phát triển theo hướng tăng dần cả về diện tích và sản lượng. Sau hơn 15 năm (1997 - 2012) diện tích, năng suất và sản lượng chè tăng từ 1,5 đến 2,5 lần. Diện tích chè già với năng suất thấp, chất lượng kém đang được thay thế mạnh mẽ bằng các giống chè mới với năng suất cao và chất lượng tốt như LDP1, LDP2, Kim Tuyên… Hiện nay cơ cấu các giống chè mới, được chọn lọc đã chiếm 52 % tổng diện tích chè cả nước. Năm 2012, diện tích chè cả nước có khoảng 130.000 ha, năng suất khô đạt 1,4 tấn/ha, sản lượng chè khô sản xuất  ra đạt khoảng 200.000 tấn. Trong đó, xuất khẩu 160.000 tấn, với tỷ trọng chè đen là 57,4 %, chè xanh và chè khác là 42 %. Như vậy, so với 5 năm trước đây (2007) tỷ trọng loại chè xuất khẩu của Việt Nam có sự thay đổi theo hướng tăng xuất khẩu chè xanh, giảm xuất khẩu chè đen (năm 2007 tỷ trọng xuất khẩu chè đen chiếm 70 %). Cho đến nay, chè của Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam là quốc gia có sản lượng và xuất khẩu chè lớn thứ 5 trên thế giới, song giá chè xuất khẩu của Việt Nam chưa cao, bình quân khoảng 1,5 USD/1 kg, chỉ bằng 70% giá bán bình quân của  sản phẩm chè thế giới.

1
Giống chè PH8 trên diện tích sản xuất thực nghiệm tại Viện KHKT nông - lâm nghiệp miền núi phía Bắc.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là cơ cấu giống chè của nước ta còn chưa phù hợp. Đến năm 1980 tỷ lệ giống chè trung du và chè shan trồng bằng hạt chiếm tới 90 % diện tích chè cả nước. Giai đoạn từ những năm 1980 chúng ta mới chỉ áp dụng phương pháp chọn lọc cá thể từ quần thể chè hạt hiện có. Kết quả đã chọn ra giống chè PH1 và cùng với tiến bộ về kỹ thuật giâm cành, giống chè PH1 đã phát triển nhanh và chiếm khoảng 10 % diện tích. Tuy nhiên, phương pháp chọn lọc cá thể không có nhiều cơ hội lựa chọn vì số lượng vật liệu khởi đầu còn hạn chế. Từ năm 1980, trạm nghiên cứu chè Phú Hộ đã bắt đầu áp dụng phương pháp lai hữu tính chọn tạo giống chè mới đã chọn ra giống chè LDP1, LDP2. Đây là 2 giống chè sinh trưởng khỏe, năng suất cao, khả năng chống chịu tốt; tuy nhiên nó chỉ phù hợp cho chế biến chè đen. Vì vậy, năm 1998, Viện Nghiên cứu chè (nay là Viện KHKT nông - lâm nghiệp miền núi phía Bắc) đã áp dụng phương pháp lai hữu tính giữa các giống chè nhập nội có chất lượng cao với các giống chè địa phương sinh trưởng khỏe, có khả năng thích ứng tốt với điều kiện khí hậu Việt Nam, nhằm tạo ra giống chè mới có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chế biến chè xanh, chè đen chất lượng cao, đa dạng hóa sản phẩm chè, nâng cao hiệu quả của sản xuất chè ở Việt Nam.

Từ hai giống chè Kim Tuyên (khi nhập vào Việt Nam năm 1994, còn có tên gọi là Kim Huyên, A17 hoặc dòng 27 mang đặc điểm: Dạng thân bụi, tán hơi đứng, mật độ cành dày, lá hình bầu dục xanh bóng, thế là ngang, răng cưa to, đều, chóp lá tù) và giống chè TRI777 (thuộc biến chủng chè Shan, cây sinh trưởng khá, búp to, mật độ búp thấp, góc độ phân cành hẹp, tán tương đối rộng);  bằng phương pháp lai hữu tính, nhóm các nhà khoa học ở Viện KHKT Nông - lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã nghiên cứu để chọn tạo được hai giống chè mới PH8, PH9 có khả năng đáp ứng yêu cầu thực tiễn của ngành chè đang đặt ra.

Kể lại quá trình lai tạo, Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Phương, thành viên nhóm nghiên cứu cho biết: Năm 1998, Viện đã tiến hành lai hữu tính giữa giống chè TRI777 với giống chè Kim Tuyên. Tháng 10 năm 1999 thu quả từ các cặp lai, gieo các cặp lai theo dõi và chọn lọc các cá thể lai, dựa vào các số liệu quan sát, theo dõi các chỉ tiêu hình thái, sinh trưởng, năng suất, chất lượng, nhóm đã chọn được cây lai số 8 và cây lai số 9 đáp ứng được các yêu cầu đặt ra, nhân giống bằng kỹ thuật giâm cành tạo thành dòng số 8 và dòng số 9. Thí nghiệm khảo nghiệm so sánh giống thấy một số ưu thế về đặc điểm hình thái sinh học của 2 giống PH8 và PH9 đối với việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè.

Từ kết quả lai tạo, Viện đã tiến hành trồng khảo nghiệm ở một số vùng đại diện cho các vùng sản xuất chè ở miền Bắc như Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang… Ở các vùng sản xuất thử, giống PH8, PH9 đều sinh trưởng khỏe, khả năng chống chịu điều kiện bất thuận tốt. Tỷ lệ sống cao trên 95 - 99 %, trong đó Thái Nguyên có tỷ lệ sống sau trồng đạt cao tới 99%. Tại Phú Thọ, giống chè PH8, PH9 sinh trưởng khỏe, có tỷ lệ sống cao, ở tuổi 8 vẫn đạt 98 - 100 %. Điều đó chứng tỏ giống chè PH8, PH9 có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất thuận của thời tiết khí hậu ở Phú Thọ. Giống PH8, PH9 cho năng suất sớm. Tuổi 4 đã đạt 7 - 8 tấn/ha, tuổi 8 đạt 15,8 - 17,24 tấn/ha. Giống PH8 tăng 138,23 % so với Kim Tuyên và 165,23 % so với giống TRI777; giống PH9 tăng 118,23 % so với giống Kim Tuyên và 143,07 % so với TRI777. Đặc biệt, trong những năm đầu, giống PH8, PH9 có năng suất tương đương với giống LDP1 nhưng đến tuổi 8 năng suất đã vượt so với LDP1 từ 26,9 - 38,37 %.

Từ các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy 2 giống chè mới PH8, PH9 tại các vùng đều sinh trưởng khỏe, có tiềm năng cho năng suất cao, chất lượng tốt và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt. Hai giống PH8, PH9 đều có khả năng thích ứng với các vùng khảo nghiệm. Do đặc điểm của 2 giống chè PH8, PH9 sinh trưởng khỏe, sớm cho năng suất cao, chất lượng tốt, nên ngay sau khi được công nhận giống sản xuất thử, 2 giống chè mới này đã được mở rộng diện tích tương đối nhanh. Đến nay tại 3 tỉnh điều tra: Phú Thọ, Thái Nguyên và Tuyên Quang, diện tích 2 giống chè đã đạt 200 ha, trong đó giống chè PH8: 125 ha và PH9: 75 ha. Ngoài 3 tỉnh chủ lực giống chè PH8, PH9 còn đang được phát triển ở các tỉnh khác như: Nghệ An (11 ha), Lai Châu (trên 30 ha), Yên Bái (10 ha), Hà Nội (10 ha), Sơn La, Lào Cai, Hòa Bình, Quảng Ninh… Đến nay tổng diện tích trồng 2 giống chè PH8, PH9 trên cả nước đã đạt trên 300 ha.

Tham gia Hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Phú Thọ năm 2012- 2013, kết quả nghiên cứu chọn tạo giống chè PH8, PH9 của nhóm tác giả gồm 5 tiến sĩ khoa học của Viện KHKT Nông – lâm nghiệp miền núi phía Bắc: Nguyễn Thị Minh Phương, Nguyễn Văn Toàn, Đỗ Văn Ngọc, Nguyễn Văn La, Đặng Văn Thư đưa được Hội đồng giám khảo đánh giá cao ở cả 3 phương diện: Tính mới và sáng tạo; khả năng áp dụng, triển khai; hiệu quả kỹ thuật công nghệ. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp lai hữu tính, chọn đúng cặp bố mẹ kết hợp phương pháp chọn lọc cá thể để tạo giống mới; đồng thời sử dụng công nghệ nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành, phương pháp tiến bộ đã được nghiên cứu và sử dụng tại Việt Nam nên đảm bảo tính thuần nhất của giống chè mới. Hai giống chè mới hiện đã có trên 300 ha và có mặt tại hầu hết các tỉnh trồng chè vùng trung du miền núi phía Bắc; triển vọng tiếp tục được phát triển ở các tỉnh trồng chè trong cả nước cung cấp nguyên liệu cho các vùng chè chế biến chè xanh và chè đen chất lượng cao. Kết quả chọn tạo thành công 2 giống chè PH8, PH9 đã đóng góp vào bộ giống chè của nước ta 2 giống chè mới, góp phần tăng tỷ trọng các giống chè mới của Việt Nam lên trên 52 % tổng diện tích chè cả nước. Giống mới đã góp phần đa dạng hóa sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế sản xuất chè Việt Nam.  Hiện nay năng suất bình quân chè Việt Nam đã đạt 7,3 tấn/ha, tăng gấp 2,1 lần so với năm 2000. Việc nâng cao chất lượng chè và tạo việc làm cho hàng triệu lao động vùng trung du và miền núi; ngoài ra cây chè còn góp phần bảo vệ đất, chống xói mòn, rửa trôi, bảo vệ môi trường.

Với những thành công trên, kết quả nghiên cứu cho ra đời hai giống chè mới: PH8, PH9 của nhóm các nhà khoa học ở Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã mở ra triển vọng mới cho ngành chè Việt Nam nói chung, Phú Thọ nói riêng; đồng thời xứng đáng với vị trí quán quân tại Hội thi sáng tạo kỹ thuật của tỉnh Phú Thọ năm 2012- 2013.

Lượt xem: 349



BÀI VIẾT KHÁC
Những dấu ấn lịch sử qua các kỳ Đại hội Đảng
Những dấu ấn lịch sử qua các kỳ Đại hội Đảng

Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước ta, chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo, mở ra con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Gần một thế kỷ qua, Đảng luôn đồng hành cùng dân tộc, kiên định mục tiêu lý tưởng, lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn thử thách, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trải qua 13 kỳ Đại hội và tiến tới Đại hội lần thứ XIV, mỗi kỳ Đại hội ...

Ngày 19/01/2026
Đại hội Đảng XIV: Vai trò kết nối quá khứ và tương lai
Đại hội Đảng XIV: Vai trò kết nối quá khứ và tương lai

Đại hội XIV có vai trò quan trọng với sự phát triển tương lai của Việt Nam khi thảo luận con đường phát triển, các quyết sách để đạt được mục tiêu đến năm 2030 và hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045.

Ngày 19/01/2026
Nhiệm kỳ nhiều dấu ấn tự hào
Nhiệm kỳ nhiều dấu ấn tự hào

Khép lại nhiệm kỳ 2020–2025, Phú Thọ bước qua một chặng đường đặc biệt. Đó là nhiệm kỳ diễn ra trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, đại dịch Covid-19 tác động sâu rộng đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội; trong nước triển khai mạnh mẽ cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, hợp nhất đơn vị hành chính quy mô lớn.

Ngày 16/01/2026
Phú Thọ xếp thứ 1/34 tỉnh, thành phố về chất lượng và tiến độ Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025
Phú Thọ xếp thứ 1/34 tỉnh, thành phố về chất lượng và tiến độ Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025

Ngày 14/1/2026, đồng chí Hồ Đức Phớc - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 Trung ương chủ trì hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết và công bố kết quả sơ bộ của cuộc Tổng điều tra. Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo, tỉnh Phú Thọ xếp thứ 1/34 tỉnh, thành phố về chất lượng và tiến độ Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025.

Ngày 16/01/2026
Đại hội XIV của Đảng: Đặt trọn niềm tin vào những quyết sách chiến lược
Đại hội XIV của Đảng: Đặt trọn niềm tin vào những quyết sách chiến lược

Với niềm tin sắt son vào sự lãnh đạo của Đảng, đội ngũ trí thức cả nước quyết tâm biến những chủ trương, đường lối của Đại hội lần thứ XIV của Đảng thành các chương trình hành động cụ thể.

Ngày 16/01/2026
Bảo đảm an toàn thực phẩm dịp cuối năm và Tết Nguyên đán
Bảo đảm an toàn thực phẩm dịp cuối năm và Tết Nguyên đán

Dịp cuối năm và Tết Nguyên đán luôn là thời điểm nhu cầu tiêu dùng thực phẩm tăng cao, kéo theo nguy cơ mất an toàn thực phẩm (ATTP). Nhận diện rõ những rủi ro này, UBND tỉnh đã sớm triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm bảo đảm ATTP, phục vụ Nhân dân đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ và mùa lễ hội Xuân năm 2026.

Ngày 16/01/2026
Cuộc thi tìm hiểu nghị quyết ĐHĐB tỉnh Phú Thọ lần 1 Lịch tiếp công dân Mời tham dự CĐS 2025 ​Cuộc thi trực tuyến "Tìm hiểu về Bộ, ngành Tư pháp" Cổng sáng kiến Khoa học và công nghệ Chung tay cải cách thủ tục hành chính Chương trình thúc đẩy các dịch vụ số sử dụng tên miền quốc gia “.vn” Phổ biến giáo dục pháp luật Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học Thống kê KHCN Kết quả thực hiện nhiệm vụ KHCN Nhiệm vụ KHCN đang tiến hành Thông tin KHCN Du Lịch Điện Biên

Liên kết trang

PAKN đã trả lời

0

PAKN đang xử lý

4

PAKN từ chối xử lý

0