
- Những năm qua, phát huy những lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng, về lịch sử phát triển, tỉnh ta đã không ngừng mở rộng diện tích, thị trường tiêu thụ, trong đó tập trung sản xuất các sản phẩm chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP; từng bước tạo dựng thương hiệu cho sản phẩm chè xanh Phú Thọ.
Được coi là cái nôi của ngành chè Việt Nam, tỉnh ta luôn xác định phát triển cây chè là một trong những chương trình sản xuất nông nghiệp trọng điểm cần quan tâm đầu tư. Trên địa bàn tỉnh hiện cây chè được trồng chủ yếu ở các huyện miền núi như: Đoan Hùng, Tân Sơn, Thanh Sơn, Hạ Hòa, Yên Lập, Thanh Ba, Phù Ninh...
Theo số liệu thống kê, đến nay, toàn tỉnh có trên 16.000ha chè, năng suất chè búp tươi bình quân trên diện tích cho sản phẩm đạt trên 11 tấn/ha, sản lượng chè búp tươi đạt trên 170 nghìn tấn/năm. Phú Thọ được xếp vào vị trí thứ 4 về diện tích và đứng thứ 3 về sản lượng so với 28 tỉnh sản xuất chè trong cả nước.
Công tác hướng dẫn, hỗ trợ đẩy mạnh việc thực hiện xây dựng, phát triển và bảo vệ thương hiệu chè xanh Phú Thọ đã được UBND tỉnh và các sở, ngành quan tâm nhằm góp phần nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của các sản phẩm chè xanh của tỉnh. Ngành Nông nghiệp đã tích cực phối hợp các cấp, ngành chức năng thực hiện rà soát, sắp xếp, phân vùng nguyên liệu cho các cơ sở chế biến.
Bên cạnh vùng nguyên liệu chế biến chè đen, đã hình thành gần 140 vùng nguyên liệu phục vụ chế biến chè xanh, được trồng bằng các giống chè chất lượng cao như: LDP1, LDP2, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên… Toàn bộ diện tích trồng mới, trồng lại được trồng bằng các giống mới có năng suất, chất lượng cao, nhân bằng phương pháp nhân giống vô tính đã làm thay đổi cơ cấu giống chè của tỉnh theo hướng giảm diện tích chè Trung du, tăng diện tích các giống chè nhập nội và các giống chè lai tạo, chọn tạo trong nước, góp phần nâng tỷ lệ diện tích chè giống mới trên 73%.
Công tác khuyến nông, bảo vệ thực vật được địa phương, đơn vị chú trọng, nhiều lớp tập huấn cho nông dân tại hiện trường về kỹ thuật thâm canh, phòng trừ sâu bệnh theo VietGAP được tổ chức; xây dựng một số mô hình sản xuất chè xanh chất lượng cao theo hướng VietGAP, mô hình Tổ dịch vụ về phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho vùng sản xuất chè tập trung…Từ đó khắc phục tình trạng tồn dư các chất độc hại trong sản phẩm chè. Các vùng chè đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thiết kế đồi chè chống xói mòn, trồng cây che bóng, mở rộng diện tích sản xuất chè theo quy trình an toàn…
Toàn tỉnh đã có gần 4.000ha chè được chứng nhận sản xuất theo quy trình an toàn, chiếm 24,1% diện tích chè cho sản phẩm, trong đó đạt tiêu chuẩn RFA, UTZ gần 2.000ha. Bên cạnh đó, các vùng chè đẩy mạnh ứng dụng cơ giới hóa khâu đốn, hái, phun thuốc BVTV. Đến nay, toàn tỉnh có trên 2.000 máy hái chè, trên 1.400 máy đốn chè, 1.800 máy phun thuốc bằng động cơ. Theo đó có khoảng 56% diện tích chè hái bằng máy và 80% diện tích chè được đốn bằng máy.

Áp dụng KHKT vào sản xuất, nhiều diện tích chè trên địa bàn huyện Tân Sơn đã được trồng thay thế bằng các giống chè lai, chè chất lượng cao cho năng suất và chất lượng sản phẩm.
Tập trung xây dựng chính sách phát triển và quảng bá thương hiệu là mục tiêu được tỉnh quan tâm, tổ chức thực hiện. Trên cơ sở nền tảng phát triển thực tế của cây chè, UBND tỉnh đã xây dựng kế hoạch phát triển cây chè theo từng giai đoạn. Theo đó, tại các hội nghị về xúc tiến đầu tư, cây chè được ưu tiên lựa chọn là một trong những sản phẩm nông nghiệp đại diện của tỉnh, được quảng bá và giới thiệu đến các tỉnh thành trong cả nước và các quốc gia trên thế giới. Từ lợi thế về phát triển cây chè đã hình thành nhiều cơ sở chế biến, tiêu thụ chè tươi, chè khô, chè thành phẩm, cung cấp đa dạng các sản phẩm chè cho thị trường trong nước và xuất khẩu, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Hiện trên địa bàn tỉnh có 50 doanh nghiệp, cơ sở chế biến chè với công suất trên 1 tấn búp tươi/ngày, gần 1.300 cơ sở chế biến chè thủ công, 17 làng nghề và 10 hợp tác xã sản xuất, chế biến chè. Các doanh nghiệp, cơ sở chế biến đã đầu tư cải tiến, thay thế thiết bị, hoàn thiện nhà xưởng, công nghệ chế biến; hiện đã có 50 cơ sở được cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm trong sơ chế, chế biến chè, 13 cơ sở chế biến áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO, HACCP; 47 cơ sở chế biến đủ điều kiện về an toàn thực phẩm.
Một số sản phẩm chè của tỉnh đã có mã số, mã vạch truy xuất nguồn gốc như chè xanh của Công ty chè Hà Trang, Công ty chè Bảo Long, Công ty TNHH chè Phú Hà, Công ty chè Tôn Vinh... Đây là tiền đề để tiến tới xây dựng phát triển thương hiệu “Chè xanh Phú Thọ” trên vùng Đất Tổ.
Để thực hiện thành công tái cơ cấu ngành chè theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, từng bước xây dựng thương hiệu chè xanh Phú Thọ, thời gian tới, các địa phương, cơ quan, đơn vị chức năng tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về sản xuất chè an toàn; tập trung nhân rộng mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị, trên cơ sở phát huy lợi thế sản phẩm và lợi thế vùng; gắn tiêu thụ chè với xây dựng thương hiệu; đẩy mạnh đầu tư thâm canh, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất chè an toàn; tiếp tục thực hiện trồng lại, trồng thay thế chè giống cũ bằng các giống mới có năng suất, chất lượng cao; hình thành các vùng chè nguyên liệu nhằm kiểm soát tốt dư lượng thuốc BVTV; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu, chế biến chè thành phẩm; đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ phát triển chè... nhằm mục tiêu thúc đẩy sản xuất chè phát triển theo hướng bền vững. Có như vậy mới làm tăng giá trị, hiệu quả cây chè và xây dựng được thương hiệu chè xanh Phú Thọ.
Qua hơn 3 năm thực hiện Đề án 06 của Chính phủ đã mang lại những kết quả thiết thực, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, từng bước xây dựng Chính phủ số, xã hội số và kinh tế số. Cùng với đó, VNeID là ứng dụng định danh và xác thực điện tử quốc gia do Bộ Công an xây dựng và vận hành dựa trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trong Đề án 06, VNeID được coi là “chìa khóa số” của công dân để xác thực danh tính, thực hiện dịch ..
Trong tiến trình xây dựng chính quyền số, xã hội số, Vĩnh Hưng xác định chuyển đổi số không đơn thuần là ứng dụng công nghệ, mà là quá trình thay đổi tư duy, phương thức quản lý, cách tiếp cận của chính quyền và người dân. Để đạt được điều đó, cấp ủy, chính quyền xã đã tập trung triển khai nhiều giải pháp để công cuộc chuyển đổi số thực sự tăng tốc.
Theo kết quả đánh giá Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2025 do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố, tỉnh Phú Thọ xếp thứ 15/34 tỉnh, thành phố, tăng 2 bậc so với năm 2024. Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2025 phản ánh tương đối sát thực trạng phát triển kinh tế - xã hội dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của tỉnh.
Năm 2026, tỉnh Phú Thọ tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trên cả 3 lĩnh vực: xây dựng chính quyền số hiệu lực, kinh tế số năng động và thu hẹp khoảng cách số trong xã hội số. Với Kế hoạch Chuyển đổi số năm 2026, tỉnh Phú Thọ đặt ra các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể cùng các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp đồng bộ, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
Hoàn thành 100% các chỉ tiêu, nhiệm vụ về chuyển đổi số, tỉnh Phú Thọ đang nằm trong TOP đầu các đơn vị hành chính của cả nước về công tác chuyển đổi số năm 2025
Khoa học, công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST) được xác định là động lực then chốt để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ, tỉnh Phú Thọ đã tập trung phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong quản lý công nghệ và ĐMST, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng
Liên kết trang
0
4
0