Trong 70 năm xây dựng và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định vị trí quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam, xứng đáng là đội quân của dân, do dân, vì dân. Đối ngoại quốc phòng là một trong những hoạt động, góp phần làm lên sức mạnh của quân đội ta.
|
Tàu chiến của Hải quân Mỹ thăm Việt Nam (Ảnh TTXVN) |
Nghị quyết Đại hội XI đã nêu rõ quan điểm của Đảng về công tác đối ngoại trong tình hình mới, là “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước”. Nghị quyết cũng chỉ rõ cách thức, phương pháp để thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại“...Kết hợp chặt chẽ đối ngoại của Đảng với ngoại giao của Nhà nước và ngoại giao nhân dân, giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hoá, giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh. Tiếp đó, Hội nghị Trung ương 8 ra Nghị quyết 28 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đánh giá đối tượng, đối tác, chính sách đối ngoại, khẳng định đối ngoại quốc phòng không chỉ là nhiệm vụ của quân đội mà là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước.
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta coi công tác đối ngoại quốc phòng là một bộ phận của nền quốc phòng toàn dân, nằm trong tổng thể các hoạt động đối ngoại Đảng, đối ngoại Nhà nước, đối ngoại nhân dân nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp để giữ vững môi trường phát triển hòa bình của đất nước.
Cùng với xu thế hòa bình trong quan hệ quốc tế và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc do Đảng lãnh đạo, hoạt động đối ngoại quốc phòng đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp quốc phòng toàn dân; xây dựng quân đội vững mạnh, đủ khả năng bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của đất nước trước mọi vấn đề của thời đại, góp phần duy trì môi trường hòa bình trong khu vực và trên toàn thế giới. Quan trọng hơn cả, công tác đối ngoại quốc phòng đã và đang góp phần tạo dựng xu thế hòa bình, sự bình đẳng, tôn trọng nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế và công khai minh bạch trong quan hệ giữa các quốc gia, nhất là trong lĩnh vực quốc phòng.
Trong hơn một thập kỷ qua, an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương có nhiều biến động. Các cường quốc trên thế giới đang thực hiện chính sách chuyển hướng, xoay trục sang châu Á hoặc gia tăng ảnh hưởng ở khu vực này. Đối với nhiều quốc gia, đây vừa là cơ hội phát triển nhưng đi liền với nó là những thách thức lớn. Với những động thái mới và can dự mạnh mẽ, các nước có lợi ích liên quan, nhất là các nước lớn đều cam kết giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác. Tuy nhiên, hành động trên thực tế lại không hoàn toàn phản ánh thực chất của những tuyên bố đó. Những hành động mang tính đơn phương, coi thường luật pháp quốc tế, áp đặt... đã xuất hiện, kéo theo những nghi ngại nhất định. Trong bối cảnh đó, đối ngoại quốc phòng với phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” đã linh hoạt, khéo léo trong giải quyết các mối quan hệ, tạo cơ sở để hợp tác và đấu tranh quốc phòng bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích dân tộc đồng thời thúc đẩy xu thế hòa bình, ổn định, hợp tác và ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh trong khu vực. Những thành quả đạt được đã nâng tầm của đối ngoại quốc phòng Việt Nam ở trong khu vực và thế giới lên một vị thế mới, là tiền đề cho sự phát triển quan hệ quốc phòng với các nước trong tương lai.
Trong những năm qua, đối ngoại quốc phòng Việt Nam đã tạo ra được các cơ chế hợp tác song phương, đa phương; mở rộng các mối quan hệ với nhiều nước, trong đó ưu tiên phát triển các quan hệ có tính chiến lược. Các kênh đối thoại cấp cao đã được mở ra và duy trì đều đặn. Đối thoại quốc phòng với nhiều nước, nhất là với các đối tác quan trọng có liên quan chặt chẽ với quốc phòng Việt Nam và an ninh khu vực như Trung Quốc, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... được nâng cấp dần từng bước và hiện đã được duy trì đều đặn.
Các cơ chế hợp tác song phương trên các lĩnh vực huấn luyện, đào tạo, mua sắm trang bị, thiết bị, hợp tác công nghiệp quốc phòng, hợp tác giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống trong những năm vừa qua đã phát huy hiệu quả. Quan hệ quốc phòng với các nước láng giềng, các nước ASEAN và các đối tác lớn đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong việc nâng cao sức chiến đấu của quân đội và giải quyết hiệu quả các vấn đề liên quan đến quốc phòng Việt Nam cũng như an ninh khu vực.
Quan hệ quốc phòng đa phương của Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác ngoài khu vực đã nâng cao vị thế, uy tín của đất nước, khẳng định Việt Nam là một nhân tố quan trọng và là đối tác tin cậy trong việc duy trì hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực.
Một trong những thành quả của đối ngoại quốc phòng trong những năm vừa qua là đã tạo ra được sự đồng thuận cao trong dư luận và nhân dân ta. Mặc dù tình hình những năm vừa qua, nhất là trong năm 2014 có nhiều diễn biến phức tạp nhưng nền ngoại giao Việt Nam nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng không bị bất ngờ, lúng túng mà đã vận dụng nhuần nhuyễn tư tưởng ngoại giao hòa bình Hồ Chí Minh, đường lối đối ngoại “tích cực và chủ động”, thể hiện được tinh thần trách nhiệm cao đối với các vấn đề liên quan đến độc lập, chủ quyền của đất nước, tạo được lòng tin của đông đảo cán bộ và đồng bào ta cả trong và ngoài nước.
Chuyên gia phân tích các vấn đề quân sự Việt Nam của Học viện Quốc phòng Australia ông Kaertaier đánh giá về đối ngoại quốc phòng của Việt Nam: “Những bước đi vô cùng khéo léo, tinh tế của Việt Nam đã thể hiện đường lối đối ngoại quân sự nhạy bén của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này lý giải vì sao vị thế và tầm ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một nâng cao”.
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước ta, chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo, mở ra con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Gần một thế kỷ qua, Đảng luôn đồng hành cùng dân tộc, kiên định mục tiêu lý tưởng, lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn thử thách, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trải qua 13 kỳ Đại hội và tiến tới Đại hội lần thứ XIV, mỗi kỳ Đại hội ...
Đại hội XIV có vai trò quan trọng với sự phát triển tương lai của Việt Nam khi thảo luận con đường phát triển, các quyết sách để đạt được mục tiêu đến năm 2030 và hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045.
Khép lại nhiệm kỳ 2020–2025, Phú Thọ bước qua một chặng đường đặc biệt. Đó là nhiệm kỳ diễn ra trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, đại dịch Covid-19 tác động sâu rộng đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội; trong nước triển khai mạnh mẽ cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, hợp nhất đơn vị hành chính quy mô lớn.
Ngày 14/1/2026, đồng chí Hồ Đức Phớc - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 Trung ương chủ trì hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết và công bố kết quả sơ bộ của cuộc Tổng điều tra. Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo, tỉnh Phú Thọ xếp thứ 1/34 tỉnh, thành phố về chất lượng và tiến độ Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025.
Với niềm tin sắt son vào sự lãnh đạo của Đảng, đội ngũ trí thức cả nước quyết tâm biến những chủ trương, đường lối của Đại hội lần thứ XIV của Đảng thành các chương trình hành động cụ thể.
Dịp cuối năm và Tết Nguyên đán luôn là thời điểm nhu cầu tiêu dùng thực phẩm tăng cao, kéo theo nguy cơ mất an toàn thực phẩm (ATTP). Nhận diện rõ những rủi ro này, UBND tỉnh đã sớm triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm bảo đảm ATTP, phục vụ Nhân dân đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ và mùa lễ hội Xuân năm 2026.
Liên kết trang
0
4
0