Trong những năm gần đây, một số đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn tỉnh đã mạnh dạn đưa tiến bộ khoa học công nghệ áp dụng trong sản xuất nông nghiệp. Từ đó đã xuất hiện các mô hình nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, được đánh giá có sức lan tỏa và thu hút được đông đảo người dân tham gia, góp phần tạo việc làm, mang lại thu nhập ổn định cho người dân.

Mô hình vườn nấm ứng dụng nhiều kỹ thuật công nghệ cao Minakami tại xã Sơn Vi, huyện Lâm Thao
Trong những năm gần đây, tỉnh Phú Thọ xác định nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm; trong đó định hướng ưu tiên là nghiên cứu lựa chọn, ứng dụng các giống cây trồng vật nuôi mới, các quy trình sản xuất nông nghiệp tiên tiến, các mô hình ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Từ năm 2015 đến nay, Phú Thọ đã triển khai thực hiện 122 đề tài, dự án cấp nhà nước và cấp tỉnh với tổng kinh phí hơn 208 tỉ đồng. Hầu hết các đề tài, dự án đều tập trung giải quyết nhiều vấn đề của thực tiễn sản xuất và đời sống như giống mới, quy trình kỹ thuật sản xuất thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, nâng cao thu nhập cho bà con nông dân vùng nông thôn, miền núi.
Để công tác ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ đạt hiệu quả, Phú Thọ đã huy động đội ngũ các nhà khoa học, cán bộ khoa học công nghệ trong và ngoài tỉnh tham gia thẩm định nội dung, công nghệ và trực tiếp tham gia thực hiện các dự án, đề tài thuộc lĩnh vực nông nghiệp. Hằng năm bố trí thực hiện các đề tài về khảo nghiệm, chọn lọc tập đoàn các giống lúa ngô mới phù hợp với điều kiện của tỉnh. Qua khảo nghiệm đã lựa chọn được 5 giống lúa, 2 giống ngô đề nghị bổ sung vào cơ cấu giống cây lương thực của tỉnh, điển hình là giống lúa J02 hiện nay đã được phát triển mạnh mẽ trong cả nước. Bên cạnh đó, chú trọng bảo vệ các nguồn gen quý hiếm phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học và phục vụ khai thác phát triển sau này như cá anh vũ, cây sơn ta…; bố trí các đề tài bảo tồn nguồn gen và phát triển các loài cây, con có giá trị của tỉnh như: Quýt Đông Khê, vải VPH40, bương mốc, măng gầy, nếp Gà gáy Mỹ Lung, chuối phấn vàng, khoai tầng vàng… Nhằm khai thác và phát triển các giống cây con đặc trưng, tỉnh đã đưa vào triển khai thực hiện các đề tài, dự án về sản xuất các sản phẩm chè từ cây chè truyền thống của tỉnh như nghiên cứu thành công công nghệ và xây dựng mô hình sản xuất trà cốm gạo lứt. Để phục vụ cho phát triển kinh tế hàng hóa, đã đưa vào triển khai xây dựng các mô hình chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ gắn với việc áp dụng các qui trình nông nghiệp sạch VietGAP, GACP vào các sản phẩm…
Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có những mô hình được đánh giá cao, trong đó phải kể đến mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ chăn nuôi thỏ New Zealand theo hướng hàng hóa quy mô; mô hình khảo nghiệm trồng dưa vàng, dưa lưới chất lượng cao ở xã Hùng Lô; mô hình sản xuất rau an toàn trái vụ tại xã Sông Lô, xã Tân Đức…
Tại xã Sơn Vi, huyện Lâm Thao, vườn nấm ứng dụng kỹ thuật công nghệ cao Minakami được triển khai trên diện tích hơn 8.000m2, cung ứng ra thị trường 60 tấn nấm tươi/năm, giá bán bình quân sản phẩm tươi từ 100 - 120 nghìn đồng/kg. Mô hình này đang là hướng đi mới trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh.
Bà Trần Thị Oanh - Cán bộ quản lý vườn nấm cho biết: Nấm hương Minakami được sản xuất theo tiêu chuẩn của Nhật Bản, trồng theo quy trình khép kín. Để diệt các loại vi khuẩn có hại, nguyên liệu làm nấm được đóng thành bịch trong các túi nilon PE, gần miệng túi có gắn màng lọc khí, sau đó được đưa vào lò hấp ở 105 độ C trong vòng 8 tiếng trước khi thả giống. Việc thả giống được thực hiện hoàn toàn bằng máy móc trong môi trường vô trùng nhằm đảm bảo tốt nhất sự phát triển của giống nấm.
Tuy nhiên trên thực tế, việc ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh qui mô còn nhỏ lẻ, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Nguyên nhân là do trình độ và tiềm lực khoa học công nghệ của tỉnh còn thấp, nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ còn hạn chế. Nhiều chủ thể sản xuất kinh doanh còn khó tiếp cận được các thông tin về chương trình hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ của Nhà nước; khi tiếp cận phải trải qua quy trình xét duyệt kéo dài, ảnh hưởng đến cơ hội đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh…
Trong thời gian tới, Phú Thọ sẽ tiếp tục triển khai các dự án, đề tài qui mô hàng hóa lớn, phát triển và xây dựng thương hiệu đối với các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của tỉnh góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và tạo sức lan tỏa lớn trong nhân dân. Chú trọng nhân rộng các mô hình nông nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ hiệu quả như: Trồng thâm canh cây bưởi Diễn qui mô 200ha; sản xuất giống cá nuôi thương phẩm qui mô hàng hóa cá bỗng, trắm đen, chiên trên sông; sản xuất giống và nuôi thương phẩm baba gai; ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất Thanh long TL5… Đồng thời, tiếp tục dành nguồn lực nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất theo hướng ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, sử dụng vật tư sản xuất nông nghiệp sạch như công nghệ nhà lưới, nhà màng, nhà kính, công nghệ tưới nhỏ giọt, tưới phun tiết kiệm sử dụng hệ thống cảm biến thông minh tự động, qui trình sản xuất nông nghiệp sạch VietGap, GACP.
Tuy nhiên, để nhiệm vụ ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả thì cần phải tiếp tục huy động sự tham gia của các nhà khoa học, cán bộ khoa học công nghệ trong và ngoài tỉnh; tích cực thông tin tuyên truyền về chương trình hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ của Nhà nước để các doanh nghiệp, cá nhân và đơn vị có thể tiếp cận thuận lợi nhất; xem xét cải cách thủ tục hành chính liên quan đến hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp…
Có thể khẳng định, khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao có vai trò rất quan trọng trong phát triển nông nghiệp toàn diện. Ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp sẽ là đòn bẩy vững chắc để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, phát triển nông nghiệp một cách bền vững. Từ đó góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cho nông sản của địa phương trong bối cảnh nền kinh tế đất nước đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Năm 2026, tỉnh Phú Thọ tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trên cả 3 lĩnh vực: xây dựng chính quyền số hiệu lực, kinh tế số năng động và thu hẹp khoảng cách số trong xã hội số. Với Kế hoạch Chuyển đổi số năm 2026, tỉnh Phú Thọ đặt ra các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể cùng các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp đồng bộ, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
Hoàn thành 100% các chỉ tiêu, nhiệm vụ về chuyển đổi số, tỉnh Phú Thọ đang nằm trong TOP đầu các đơn vị hành chính của cả nước về công tác chuyển đổi số năm 2025
Khoa học, công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST) được xác định là động lực then chốt để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ, tỉnh Phú Thọ đã tập trung phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong quản lý công nghệ và ĐMST, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng
Tháng 12/2025, tỷ lệ giải quyết hồ sơ trực tuyến của Phú Thọ duy trì ở mức 90 - 93%, nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước. Cùng thời điểm đó, 100% cơ quan cấp tỉnh, cấp xã sử dụng thống nhất các hệ thống thông tin dùng chung; 100% văn bản được gửi, nhận trên môi trường số. Những con số này cho thấy, chính quyền số không còn dừng ở việc “đưa thủ tục lên mạng”, mà đang chuyển sang vận hành bộ máy dựa trên dữ liệu và công nghệ - nền tảng cốt lõi của quản trị hiện đại.
Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh phương châm năm 2026 là hành động đột phá, lan tỏa kết quả và trả lời được ba câu hỏi trọng tâm về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Trong bối cảnh chuyển đổi số (CĐS) đang trở thành xu thế tất yếu, tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội, Đoàn Thanh niên xã Hải Lựu đã và đang khẳng định vai trò xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ trong việc đưa công nghệ số đến với người dân trên địa bàn.
Liên kết trang
0
4
0