Ủy ban nhân dân tỉnh phú thọ
Sở khoa học và công nghệ
 SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH PHÚ THỌ
ủy ban nhân dân tỉnh phú thọ
sở khoa học và công nghệ
Thứ Hai, 05/11/2018
Từ viết tắt
Xem với cỡ chữ
Đọc bài viết
Tương phản

Đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp


img1362-1537753010Mô hình trồng chè, cây ăn quả ứng dụng tiến bộ KHKT kết hợp tưới nước tiết kiệm mang lại hiệu quả cao của hộ ông Phạm Xuân Vinh ở xóm Đồng Tâm, xã Minh Đài, huyện Tân Sơn.

-Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân đã đầu tư, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, mang lại hiệu quả thiết thực, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và góp phần phát triển kinh tế - xã hội.

Mô hình nuôi gà an toàn sinh học tại xã Trung Giáp, huyện Phù Ninh của gia đình anh Nguyễn Văn Kiểm là một điển hình. Được sự hỗ trợ, hướng dẫn chuyển giao kỹ thuật của Trung tâm ứng dụng tiến bộ KHCN - Sở KH&CN, gia đình anh liên kết với một số hộ thực hiện nuôi gà theo phương pháp an toàn sinh học với số lượng trên 30.000 con, cung cấp cho thị trường tiêu dùng từ miền Bắc đến miền Trung với chất lượng thịt gà đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. 

Để thực hiện mô hình, anh Kiểm xây dựng 200m2 chuồng và bãi nuôi thả vườn 3.000m2. Chuồng nuôi được làm trên khu đất cao, theo hướng Đông Nam, đảm bảo lưu thông không khí, thoáng mát vào mùa hè, kín ấm vào mùa đông. Chất độn chuồng gồm trấu, dăm bào sạch, dày 5 - 10cm được phun sát trùng trước khi sử dụng. Máng ăn, uống được đặt hoặc treo xen kẽ trong chuồng hoặc vườn, thay nước sạch 2 - 3 lần/ngày. Bể tắm cát, máng cát sỏi được xây chứa cát, tro bếp và diêm sinh. Dàn đậu bằng tre, gỗ cách nền chuồng  0,5m, cách nhau 0,3 - 0,4m… 

Với 2.000 con gà ri lai được bắt giống lúc 2 tuần tuổi, tỷ lệ trống/mái 1:1, sau 6 tháng nuôi cho thu lãi hơn 80 triệu đồng. Anh nhận thấy, áp dụng quy trình nuôi gà an toàn sinh học vừa giúp tiết kiệm chi phí thú y, hạn chế dịch bệnh chăn nuôi, vừa tăng năng suất, sản phẩm chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng thêm uy tín, thương hiệu cho cơ sở sản xuất. 

Theo ông Hà Hồng Thanh - Chủ tịch UBND xã Đỗ Sơn, huyện Thanh Ba, nhờ đầu tư ứng dụng KHCN vào sản xuất, xã đã giải quyết lượng lớn lao động giúp nhiều hộ phát triển kinh tế gia đình, nâng cao mức sống, tích cực tham gia xây dựng, nông thôn mới. Trên địa bàn xã xuất hiện nhiều trang trại, gia trại, hộ liên kết với các doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp công nghệ cao theo hướng sản xuất hàng hóa, mang lại hiệu quả, thu nhập cao. 

Điển hình như các mô hình: Liên kết trồng chuối quy mô 50ha với hơn 600 hộ tham gia từ khu 1 đến khu 6, nuôi gà của anh Lê Thanh Sự ở khu 5, chăn nuôi lợn của anh Hà Đình Tráng và trang trại nuôi thả cá kết hợp với nuôi lợn của anh Lê Văn Huy ở khu 1... Đây chỉ số ít trong những kết quả mang lại từ việc nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KHCN vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh, giúp tạo ra cách làm mới, sản phẩm an toàn, góp phần thương mại hóa sản phẩm. 

Đặc biệt, trong lĩnh vực nông nghiệp, đã tập trung giải quyết các vấn đề về giống mới, quy trình kỹ thuật sản xuất thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với các vùng sinh thái của tỉnh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, phát triển nông, lâm nghiệp bền vững. 
Với sự quan tâm của tỉnh đã tạo cơ sở để KHCN phát triển, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao giá trị và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, giải quyết các vấn đề xã hội, thúc đẩy phát triển tiềm lực địa phương.

Theo bà Trần Bích Hạnh - Phó Giám đốc Trung tâm ứng dụng KHCN, Sở KH&CN, từ năm 2015 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã triển khai thực hiện 122 đề tài, dự án cấp Nhà nước và cấp tỉnh với tổng kinh phí hơn 208 tỷ đồng bám vào 7 lĩnh vực KHCN trọng điểm. Các đề tài, dự án đều xuất phát từ thực tiễn sản xuất và đời sống, đưa các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập, đời sống cho bà con nông dân vùng nông thôn, miền núi, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, tạo lập, phát triển các nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm đặc trưng của tỉnh. 

anh-su-4-1537753024Mô hình nuôi gà an toàn sinh học tại hộ anh Lê Thanh Sự ở khu 5, xã Đỗ Sơn, huyện Thanh Ba ứng dụng công nghệ úm gà con, đảm bảo “Ăn sạch, ở sạch, uống sạch” từ nhỏ, mang lại sản phẩm an toàn cho sức khỏe cộng đồng.

Đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh đã chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật thông qua các mô hình ứng dụng vùng nông thôn, miền núi trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao, như: Sản xuất một số sản phẩm chè mới chất lượng cao (chè xanh cao cấp, chè xanh dạng dẹt, trà cốm gạo lứt đặc sản), gắn với trồng, thâm canh các giống chè mới theo quy mô sản xuất hàng hóa; quy trình trồng, chăm sóc bưởi Diễn hàng hóa với quy mô 200ha; công nghệ sấy gỗ tự động bằng hơi nước, đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu, tăng giá trị sản phẩm; tiếp nhận công nghệ sinh sản nhân tạo để sản xuất giống và nuôi thương phẩm quy mô hàng hóa cá bỗng, cá trắm đen, cá chiên trên sông… phù hợp với vùng sinh thái địa bàn nông thôn, miền núi tỉnh, tạo được vùng sản xuất hàng hóa tập trung, theo chuỗi, tạo sinh kế cho người dân. 

Bên cạnh đó, các dự án cấp Nhà nước thuộc Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2020 đã xây dựng và phát triển được nhiều nhãn hiệu tập thể cho các sản phẩm hàng hóa, sản phẩm đặc trưng của tỉnh, nâng cao giá trị kinh tế cho sản phẩm, phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho người dân như các nhãn hiệu: Chè Chùa Tà, mỳ gạo Hùng Lô, bưởi Đoan Hùng…; bảo vệ các nguồn gen quý hiếm phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học và phục vụ khai thác phát triển sau này, như cá anh vũ, cây sơn ta…

Việc đầu tư, ứng dụng KHCN vào sản xuất, kinh doanh là yếu tố quan trọng hàng đầu đưa sản xuất nông, lâm nghiệp của tỉnh phát triển vững chắc, đặc biệt là đối với việc tăng năng suất và sản lượng lương thực toàn tỉnh, khai thác có hiệu quả nguồn lực tại chỗ, giải quyết việc làm cho số lượng lớn lao động địa phương. Một số điển hình khác như quy trình công nghệ sản xuất trà cốm gạo lứt, chè matcha, chè xanh dẹt; công nghệ canh tác trên đất dốc; công nghệ thiết bị thu hái, phân loại chè xanh; công nghệ tưới nước tiết kiệm cho cây ăn quả; đưa các giống lúa, ngô, cây ăn quả đã qua nghiên cứu, khảo nghiệm vào sản xuất, như lúa J02; táo sữa Thái Lan, táo Đào vàng ở thị xã Phú Thọ; chè xanh chất lượng cao dạng Mao Tiêm từ giống chè Phúc Vân Tiên… 

Tuy nhiên, khó khăn thường gặp trong quá trình đầu tư ứng dụng KHCN trong sản xuất là các vấn đề về tài chính, nhân lực và thông tin để thay đổi công nghệ sản xuất của các cá nhân, đơn vị, doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh, trong khi các chính sách hỗ trợ của Nhà nước chưa mang lại hiệu quả như mong muốn, đặc biệt khi gặp rủi ro. Nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh khó tiếp cận được các thông tin về chương trình hỗ trợ phát triển KHCN của Nhà nước, khi tiếp cận phải trải qua quy trình xét duyệt kéo dài, ảnh hưởng đến cơ hội đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. 

Để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân, thời gian tới, cần cải thiện hiệu quả các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển KHCN của Nhà nước; tiếp tục cắt giảm những thủ tục, giấy tờ không cần thiết; tạo điều kiện cho cá nhân, đơn vị và doanh nghiệp sớm tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ; các cơ quan Nhà nước cần đẩy mạnh việc dự báo thông tin thị trường, giúp các chủ thể yên tâm mạnh dạn đầu tư ứng dụng KHCN vào sản xuất, kinh doanh... Các doanh nghiệp, đơn vị và cá nhân cần chủ động thích ứng với những biến động của thị trường thông qua đổi mới tư duy sản xuất và tư duy quản trị, có giải pháp nâng cao năng lực sản xuất, phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của khách hàng. 

Lượt xem: 322



BÀI VIẾT KHÁC
Khi người dùng quyết định hiệu quả chuyển đổi số
Khi người dùng quyết định hiệu quả chuyển đổi số

Qua hơn 3 năm thực hiện Đề án 06 của Chính phủ đã mang lại những kết quả thiết thực, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, từng bước xây dựng Chính phủ số, xã hội số và kinh tế số. Cùng với đó, VNeID là ứng dụng định danh và xác thực điện tử quốc gia do Bộ Công an xây dựng và vận hành dựa trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trong Đề án 06, VNeID được coi là “chìa khóa số” của công dân để xác thực danh tính, thực hiện dịch ..

Ngày 14/01/2026
Vĩnh Hưng tích cực chuyển đổi số từ cơ sở
Vĩnh Hưng tích cực chuyển đổi số từ cơ sở

Trong tiến trình xây dựng chính quyền số, xã hội số, Vĩnh Hưng xác định chuyển đổi số không đơn thuần là ứng dụng công nghệ, mà là quá trình thay đổi tư duy, phương thức quản lý, cách tiếp cận của chính quyền và người dân. Để đạt được điều đó, cấp ủy, chính quyền xã đã tập trung triển khai nhiều giải pháp để công cuộc chuyển đổi số thực sự tăng tốc.

Ngày 14/01/2026
Phú Thọ xếp thứ 15/34 tỉnh, thành phố về Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) 2025
Phú Thọ xếp thứ 15/34 tỉnh, thành phố về Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) 2025

Theo kết quả đánh giá Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2025 do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố, tỉnh Phú Thọ xếp thứ 15/34 tỉnh, thành phố, tăng 2 bậc so với năm 2024. Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2025 phản ánh tương đối sát thực trạng phát triển kinh tế - xã hội dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của tỉnh.

Ngày 13/01/2026
Năm 2026: Phú Thọ đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện
Năm 2026: Phú Thọ đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện

Năm 2026, tỉnh Phú Thọ tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trên cả 3 lĩnh vực: xây dựng chính quyền số hiệu lực, kinh tế số năng động và thu hẹp khoảng cách số trong xã hội số. Với Kế hoạch Chuyển đổi số năm 2026, tỉnh Phú Thọ đặt ra các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể cùng các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp đồng bộ, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Ngày 10/01/2026
Tỉnh Phú Thọ thuộc nhóm dẫn đầu cả nước về chuyển đổi số năm 2025
Tỉnh Phú Thọ thuộc nhóm dẫn đầu cả nước về chuyển đổi số năm 2025

Hoàn thành 100% các chỉ tiêu, nhiệm vụ về chuyển đổi số, tỉnh Phú Thọ đang nằm trong TOP đầu các đơn vị hành chính của cả nước về công tác chuyển đổi số năm 2025

Ngày 09/01/2026
Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong quản lý công nghệ và đổi mới sáng tạo
Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong quản lý công nghệ và đổi mới sáng tạo

Khoa học, công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST) được xác định là động lực then chốt để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ, tỉnh Phú Thọ đã tập trung phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong quản lý công nghệ và ĐMST, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng

Ngày 09/01/2026
Cuộc thi tìm hiểu nghị quyết ĐHĐB tỉnh Phú Thọ lần 1 Lịch tiếp công dân Mời tham dự CĐS 2025 ​Cuộc thi trực tuyến "Tìm hiểu về Bộ, ngành Tư pháp" Cổng sáng kiến Khoa học và công nghệ Chung tay cải cách thủ tục hành chính Chương trình thúc đẩy các dịch vụ số sử dụng tên miền quốc gia “.vn” Phổ biến giáo dục pháp luật Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học Thống kê KHCN Kết quả thực hiện nhiệm vụ KHCN Nhiệm vụ KHCN đang tiến hành Thông tin KHCN Du Lịch Điện Biên

Liên kết trang

PAKN đã trả lời

0

PAKN đang xử lý

4

PAKN từ chối xử lý

0