Hiện nay, không ít hộ trong làng nghề chế biến chè Hoàng Văn, xã Văn Luông, huyện Tân Sơn đã đầu tư trồng, chế biến chè theo quy trình an toàn, đảm bảo chất lượng nhằm tạo thương hiệu và nâng cao giá trị sản phẩm.
-Với diện tích trên 16.000ha, tổng sản lượng chè búp tươi mỗi năm đạt trên 170.000 tấn, cây chè đã và đang khẳng định vai trò, vị thế là sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh, giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định cho nông dân khu vực nông thôn, miền núi. Dựa trên tiềm năng hiện có, nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm trong sản xuất, chế biến, tạo dựng thương hiệu chè Phú Thọ, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm chè đang được quan tâm, chú trọng.
Thời gian qua, tỉnh ta đã trồng thay thế những diện tích chè giống cũ, cằn xấu, năng suất thấp bằng các giống chè mới như LDP1, LDP2, Kim Tuyên, PH11, Phúc Vân Tiên... cho năng suất, chất lượng cao. Đến nay, tỷ lệ chè giống mới chiếm trên 70% diện tích chè hiện có. Các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất chè nhằm nâng cao chất lượng, tuân thủ quy trình kỹ thuật, đảm bảo an toàn thực phẩm được tăng cường. Nhiều mô hình canh tác tiên tiến được ứng dụng và triển khai có hiệu quả như: Thiết kế đồi chè chống xói mòn; trồng cây che bóng, bón phân cân đối, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), mở rộng diện tích sản xuất chè theo quy trình an toàn đạt khoảng 4.000ha.
Qua các lớp tập huấn kỹ thuật, người dân vùng chè đã dần áp dụng các kỹ thuật tiên tiến như bón đủ phân hữu cơ, phân bón lót trước khi trồng mới; tăng cường đầu tư thâm canh, sử dụng phân bón chuyên dùng cho chè; bón bổ sung phân vi sinh, phân bón lá. Trên địa bàn tỉnh đã xây dựng các mô hình điểm áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, thâm canh, sản xuất chè an toàn, sản xuất theo chuỗi giá trị. Ở một số nơi đã xây dựng các điểm thu gom, xử lý toàn bộ bao gói phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sử dụng cho chè, đảm bảo môi trường sinh thái vùng chè.
Trong sản xuất chè, hiện nay vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm được coi trọng hàng đầu, vì vậy việc thiết lập những mô hình sản xuất theo hướng an toàn là xu thế tất yếu để phát triển và tạo đầu ra bền vững. Ở một số làng nghề, hợp tác xã chè an toàn, không chỉ sản xuất theo đúng quy trình mà các nhóm hộ, các hộ sản xuất còn xây dựng được quy chế giám sát cộng đồng, phát huy tính tự chủ của mỗi cá nhân trong quá trình sản xuất. Các ngành chức năng và địa phương cũng chú trọng tuyên truyền để các hộ sản xuất, kinh doanh chè nắm rõ các yêu cầu của cơ sở chế biến đảm bảo an toàn thực phẩm.
Tại huyện Yên Lập có trên 1.400ha chè, nhiều năm qua, bên cạnh việc giữ ổn định diện tích, huyện luôn quan tâm đầu tư cải tạo, thâm canh diện tích chè, thay thế dần các giống chè năng suất, chất lượng thấp. Cùng với hỗ trợ vốn, nhiều lớp tập huấn về chăm sóc cây chè đã được mở để nâng cao trình độ cho bà con. Ông Hoàng Văn Cường - Trưởng phòng Nông nghiệp &PTNT huyện cho biết: Để đảm bảo an toàn thực phẩm trong sản xuất chè, huyện tích cực tuyên truyền, vận động người dân ứng dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên chè, chỉ sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật trong danh mục được phép sử dụng trên chè và theo kết quả điều tra dự tính, dự báo sâu bệnh hại; không lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật theo định kỳ hoặc theo lứa hái; khuyến khích xây dựng và nhân rộng mô hình nhóm hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất chè sạch để từ đó làm đầu mối liên kết với doanh nghiệp.
Tuy sản xuất chè theo hướng an toàn, đảm bảo an toàn thực phẩm trong sản xuất, chế biến đạt được kết quả bước đầu song vẫn còn những rào cản khiến chưa thể áp dụng đồng bộ. Nguyên nhân của tình trạng trên là do quy mô sản xuất nhỏ, manh mún khiến khó áp dụng cơ giới hóa, tiến bộ kỹ thuật, khó xây dựng mô hình chứng nhận chè an toàn và ký kết hợp đồng liên kết xây dựng vùng nguyên liệu với doanh nghiệp. Hạ tầng giao thông, nước tưới đến các nương chè còn hạn chế gây khó khăn cho thâm canh, quản lý và tuân thủ quy trình sản xuất an toàn, chất lượng. Liên kết giữa chế biến với sản xuất nguyên liệu còn thiếu chặt chẽ, chưa hình thành được nhiều chuỗi liên kết.
Để nhân rộng sản xuất chè an toàn thì trước hết cần nâng cao ý thức của người sản xuất, kinh doanh chè qua việc tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật, trang bị cho nông dân những kiến thức cơ bản để tăng năng suất, chất lượng chè, tạo ra sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm... Các cơ quan chức năng cần tăng cường thanh, kiểm tra, xử lý những cơ sở sản xuất, kinh doanh chè không đảm bảo, hướng người tiêu dùng đến các sản phẩm đạt tiêu chuẩn. Mấu chốt của việc đảm bảo an toàn thực phẩm trong sản xuất chè là thu hút nguồn lực, đầu tư khoa học, kỹ thuật công nghệ cao vào các vùng chè chủ lực, nhất là thu hút đầu tư của các doanh nghiệp và hợp tác xã vào chuỗi liên kết sản xuất chè, khuyến khích đầu tư vào khâu chế biến sâu và tiêu thụ sản phẩm.
Qua hơn 3 năm thực hiện Đề án 06 của Chính phủ đã mang lại những kết quả thiết thực, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, từng bước xây dựng Chính phủ số, xã hội số và kinh tế số. Cùng với đó, VNeID là ứng dụng định danh và xác thực điện tử quốc gia do Bộ Công an xây dựng và vận hành dựa trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trong Đề án 06, VNeID được coi là “chìa khóa số” của công dân để xác thực danh tính, thực hiện dịch ..
Trong tiến trình xây dựng chính quyền số, xã hội số, Vĩnh Hưng xác định chuyển đổi số không đơn thuần là ứng dụng công nghệ, mà là quá trình thay đổi tư duy, phương thức quản lý, cách tiếp cận của chính quyền và người dân. Để đạt được điều đó, cấp ủy, chính quyền xã đã tập trung triển khai nhiều giải pháp để công cuộc chuyển đổi số thực sự tăng tốc.
Theo kết quả đánh giá Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2025 do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố, tỉnh Phú Thọ xếp thứ 15/34 tỉnh, thành phố, tăng 2 bậc so với năm 2024. Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2025 phản ánh tương đối sát thực trạng phát triển kinh tế - xã hội dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của tỉnh.
Năm 2026, tỉnh Phú Thọ tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trên cả 3 lĩnh vực: xây dựng chính quyền số hiệu lực, kinh tế số năng động và thu hẹp khoảng cách số trong xã hội số. Với Kế hoạch Chuyển đổi số năm 2026, tỉnh Phú Thọ đặt ra các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể cùng các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp đồng bộ, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
Hoàn thành 100% các chỉ tiêu, nhiệm vụ về chuyển đổi số, tỉnh Phú Thọ đang nằm trong TOP đầu các đơn vị hành chính của cả nước về công tác chuyển đổi số năm 2025
Khoa học, công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST) được xác định là động lực then chốt để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ, tỉnh Phú Thọ đã tập trung phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong quản lý công nghệ và ĐMST, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng
Liên kết trang
0
4
0